ATM có còn là sự lựa chọn tốt nhất?

ATM có còn là sự lựa chọn tốt nhất? Vào những ngày đầu tiên hội nhập nền kinh tế tài chính thế giới, nhất là sau khi cáp internet được kết nối tại Việt Nam và người dân đã làm quen với những khái niệm email, yahoo messenger, đọc báo trực tuyến, truyền hình cáp… được vài năm. Vào năm 2002, Ngân hàng Ngoại thương Vietcombank đã làm chuyện “kinh thiên” lúc đó là nhập 1 chiếc máy ATM về và công bố sản phẩm độc đáo chưa từng có này cho khách hàng biết bằng cách mở một buổi tiệc lớn tại Hà Nội, cho máy ATM biểu diễn…rút tiền mặt trước đài truyền hình và công chúng.

Buổi tiệc không thành công như mong đợi, vì lý do là đường truyền mạng internet bị trục trặc gần giờ biểu diễn. Để lấp chỗ trống, Thống đốc Ngân hàng nhà nước (NHNN) và Tổng giám đốc của Vietcombank (VCB) lúc bấy giờ phải lấy chiếc thẻ ATM biểu tượng của VCB ra để minh họa, và đó cũng là lần đầu tiên khách hàng được thấy chiếc thẻ ATM được sản xuất tại Việt Nam.

Từ đó về sau, các ngân hàng đều bắt đầu nhập máy ATM về và triển khai các dịch vụ từ chiếc máy huyền thoại này. Các tiện lợi của ATM trong thời buổi bình minh công nghệ lúc đó, trong thời kỳ bắt đầu hội nhập được người dân xem là tiến bộ công nghệ vượt bậc, điều chưa từng xảy ra trên đất nước hình chữ S này.

Tiện lợi vốn có

Tiện lợi đầu tiên là rút tiền mặt, các ngân hàng bắt đầu thở phào vì không còn cảnh chen chúc để rút tiền tại quầy thu ngân nữa; khách hàng cũng thấy thoải mái, chỉ cần đưa chiếc thẻ vào, nhập mật mã và sau một vài thao tác là thấy tiền được máy đưa ra, thật là gọn nhẹ và kín đáo, vì chỉ có mình và máy biết. Tiền được máy đưa ra và tài khoản khách hàng bị trừ ngay lập tức, thật là một giấc mơ vào thời đấy. Trong khi đó, các tiện lợi khác như xem số dư, lịch sử giao dịch,… đều không được sử dụng nhiều.

Bùng nổ

Đối với xã hội mà hơn 95% các giao dịch dân sự đều bằng tiền mặt và chỉ khoảng 10 % dân số là có tài khoản ngân hàng (năm 2002), thì sự xuất hiện của ATM là một cuộc cách mạng tài chính lớn nhất từ trước đến nay. Vậy là người dân hưởng ứng dịch vụ mới mẻ này ngay lập tức. Số tài khoản tại ngân hàng ngày càng tăng, số lượng thẻ ATM cũng tăng lên và dĩ nhiên máy ATM cũng bắt buộc phải tăng do nhu cầu quá lớn. Các ngân hàng thi nhau nhập khẩu máy ATM và các chương trình quản lý phát hành thẻ, trang bị hầu hết cho các chi nhánh và phòng giao dịch đều có máy ATM để phục vụ cho thượng đế cần tiền mặt.

ATM có còn là sự lựa chọn tốt nhất?

Theo thống kê của NHNN vào năm 2005, chỉ ba năm sau sự kiện máy ATM của Vietcombank, cho thấy thị trường kinh tế Việt Nam có 35 ngân hàng bắt đầu có dịch vụ thẻ, số lượng ATM là 5.000 và số thẻ phát hành là hơn 40 triệu thẻ ATM. Tốc độ của thẻ và ATM sẽ còn tăng cho đến thời điểm suy thoái các ngân hàng vào năm 2010, tốc độ phát triển chậm lại đôi chút và tăng tốc tiếp tục sau năm 2014, và cho đến thời điểm năm nay (2018) tổng số lượng máy ATM đã lên đến 18.000 và số lượng thẻ hoạt động là 87 triệu thẻ ATM.

Và “em” đã đến với công nhân khu chế xuất

Đằng sau những con số thống kê nêu trên, có nhiều hình ảnh trên các trang báo chí hoặc các trang mạng cho thấy người dân Việt Nam ưa chuộng sử dụng thẻ ATM để rút tiền mặt. Và hầu hết, người xem báo giấy hoặc báo mạng chỉ thấy hình ảnh dân văn phòng sang chảnh bên cạnh máy ATM thế hệ mới, họ dễ dàng cho rằng dân thành phố sử dụng ATM chiếm đa số.

Sự thật lại hoàn toàn khác. Với tỷ lệ dân số ở nông thôn chiếm hơn 80% tổng dân số, và thành phần lao động phổ thông càng ngày càng tăng do khuynh hướng của nên kinh tế đô thị hóa ngày càng phát triển, số lượng dân nông thôn lên thành phố lớn để tìm việc làm, được trả lương qua tài khoản ngân hàng và sử dụng ATM để rút tiền mới thực sự chiếm phần lớn. Họ rút tiền để đi chợ mua đồ ăn, trả tiền học cho con, trả tiền thuê nhà, gửi về quê.. và những định phí này cần phải thanh toán bằng tiền mặt.

Lịch sử ATM tại Việt Nam, nếu được viết, sẽ phải ghi nhận tình trạng các công nhân xếp hàng rồng rắn trước máy ATM để rút tiền vào những ngày lương, và các hình ảnh này sẽ là một kỷ niệm khó quên đối với chủ thẻ và ngân hàng. Các ngân hàng phải tăng tốc để tiếp quỹ ATM và phân bổ vị trí và số lượng ATM cho hợp lý. Số máy ATM bị đập phá nếu bị sự cố trong dịp này vào hàng tháng cũng không phải ít và các giao dịch không thành công mà tài khoản bị trừ tiền tăng đột biến. Tình cảm của chủ thẻ và ngân hàng luôn luôn bị sứt mẻ trong thời gian này, và sự hàn gắn là… rất khó.

Hệ lụy đi kèm ATM

Hệ lụy của ATM chỉ mới bắt đầu. Sau thời gian bùng nổ thì dịch vụ ATM bước sang giai đoạn.. khủng hoảng theo quy luật, người ta bắt đầu sử dụng quen dần và phát hiện ra ATM bắt đầu có những lỗ hổng chết người và hệ lụy phát sinh từ đây cũng không hề nhỏ. Từ năm 2008 đã có những vụ thưa kiện về vấn đề mất tiền tại ATM, về việc chủ thẻ không hề rút tiền mà tài khoản bị hao hụt. Chủ thẻ tuyên bố giữ thẻ bên mình, không hề đưa cho ai, nhưng ngân hàng lại đưa ra chứng cớ về nhật ký ATM có thể hiện rõ ràng giao dich của thẻ đó. Hai bên không thỏa hiệp được thì phải ra tòa.

Kiện thưa nhiều vụ chưa phân xử thỏa đáng thì đến vấn đề các ngân hàng đòi thu phí, các cán bộ ngân hàng tuyên bố thời điểm rộng mở dịch vụ để khách hàng làm quen đã chấm dứt, các ngân hàng chưa thu hồi đủ vốn bỏ ra mua ATM, nên phải thu phí. Có rất nhiều tranh cãi đã diễn ra trên các phương tiện truyền thông và rốt cuộc là người dân cũng phải chịu phí khi đến với dịch vụ ATM.

An toàn bảo mật – cú sốc lớn

Vào năm 2016, vấn đề thu phí của ngân hàng chưa lắng xuống thì các chủ thẻ lại bị tấn công thêm đòn chí mạng, đó là tin tặc tấn công bằng thủ đoạn đã cũ nhưng vô cùng hiệu quả là skimming (tội phạm dùng thiết bị cài vào máy để ăn căp thông tin khách hàng và mật mã, sau đó in thẻ giả và thực hiện giao dịch đánh cắp tiền từ tài khoản khách hàng). Các trường hợp này gây cho ngân hàng nhiều khó khăn và thiệt hại, do phải đền bù cho khách hàng bị mất tiền và điều tra sự việc, đồng thời phải nâng cấp hệ thống công nghệ thông tin của ngân hàng. Lần này ngân hàng thua ở tập 2.

Và ngân hàng lại thua tiếp ở tập 3, khi trong hai năm 2017 và 2018 phải đối diện với các thách thức lớn hơn nữa khi chứng kiến vô số trường hợp các máy ATM của các ngân hàng lớn tại Thái Lan, Nhật, Ấn Độ..bị bọn tội phạm công nghệ thực hiện đột nhập vào hệ thống, cài mã độc và ra lệnh ATM nhả tiền vào một thời điểm trong ngày. Để tránh mất mát tiếp diễn, các ngân hàng trong nước buộc phải bỏ hầu bao để nâng cấp các chương trình chống xâm nhập, trang bị thiết bị hiện đại đồng thời luôn kêu gọi khách hàng cảnh giác cao độ khi thực hiện giao dịch. Chưa bao giờ, việc sử dụng và duy trì hoạt động của ATM lại gây tâm lý sợ sệt cho khách hàng và e ngại cho ngân hàng khi đầu tư như hiện nay.